Download Template for Joomla Full premium theme.

Deutschland online bookmaker http://artbetting.de/bet365/ 100% Bonus.

Online bookmaker bet365

CON NGƯỜI LÀ TÁC GIẢ, LÀ TÂM ĐIỂM VÀ CỨU CÁNH CỦA TẤT CẢ ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI

nthong-1 EAEZ

Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã trao cho con người đặc ơn chinh phục trái đất, để cùng cộng tác với Người trong chương trình sáng tạo (x. St 1,28; 2,15). Do đó, con người phải vận dụng tất cả những gì Chúa ban để làm cho cuộc sống mình và tha nhân cũng như với môi trường thiên nhiên ngày càng tốt đẹp và phong phú hơn. Thế nhưng, chúng ta biết, theo dòng lịch sử, con người đã phải vất vả để “kiếm kế sinh nhai” kể từ sau khi Nguyên Tổ phạm tội (x. St 3,17-19). Kể từ đó, con người đã chịu cảnh thiếu thốn về nhiều mặt không những về tinh thần mà cả nhu cầu về vật chất nữa.

Thật đáng mừng với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật vào những thập niên 50, 60 của thế kỷ XX làm cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ vượt trội, sản xuất ra lượng của cải dồi dào và phong phú.1 Từ đó, con người hy vọng cuộc sống sẽ được đáp ứng đầy đủ xứng với nhân phẩm của mình hơn.

Thế nhưng, thật là nghịch lý khi nền kinh tế càng phát triển thì nhân phẩm không những không được tôn trọng và nâng cao mà con bị xúc phạm đáng báo động.2 Tình trạng đó đã trở nên mối quan tâm hàng đầu cho toàn thế giới, cách riêng là với Giáo Hội Công Giáo chúng ta.3 Chính nỗi âu lo về nhân phẩm của con người trong tương quan với hoạt động kinh tế xã hội được xem là “vấn đề của thời đại.” Điều này được Công đồng Vaticanô II dành trọn cả chương III, trong Hiến Chế “Gaudium Et Spes” để trình bày và phân định cách sâu xa qua các dấu chỉ thời đại. Công đồng khẳng định rằng: “Con người là tác giả, tâm điểm và cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội.”4

Cùng với ý cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong tháng Sáu này, tôi lựa chọn đề tài này, để qua việc tìm hiểu và trình bày dựa trên giáo huấn của Giáo Hội, làm nổi bật về vai trò của hoạt động kinh tế đúng theo đường lối của Giáo Hội là để “tôn trọng và nâng cao phẩm giá con người, đồng thời hướng tới ích lợi xã hội cách toàn diện.” Với đề tài này, tôi trình bày theo lược đồ sau: (1) Khái niệm về con người, (2) Khái niệm về hoạt động kinh tế, (3) Mối tương quan giữa con người và hoạt động kinh tế xã hội.

1. Khái niệm về con người

Từ cổ chí kim và cả cho đến hiện nay, con người đã giải đáp được biết bao nhiêu hiện tượng bí ẩn trong thiên nhiên, bao nhiêu lãnh vực chuyên sâu trong cuộc sống. Thế nhưng, con người vẫn đang không tìm cho mình câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi: Tôi là ai?

Với giới bình dân, thì câu trả lời xem ra đơn giản vì ít nhiều ai cũng có thể trả lời được tùy theo mức độ hiểu biết. Tuy nhiên, với giới trí thức hay với các triết gia để có câu trả lời cách đầy đủ thì đã phải chi tốn rất nhiều thời giờ, trí lực và giấy mực được trình bày qua nhiều công trình nghiên cứu và suy tư. Với triết gia Aristote, một trong ba trụ cột của nền văn minh Hy Lạp cổ đại cho rằng con người là “con vật duy nhất biết sử dụng ngôn ngữ.”5 Đặc biệt, nơi con người “lời nói được sử dụng để diễn tả điều may lành cũng như điều nguy hại, cái đúng và cái sai. Đây là đặc điểm của con người so sánh với các động vật khác, vì chỉ duy con người có khả năng nhận thức tốt và xấu, công bằng và bất công.” Từ đó phát sinh định nghĩa: “Con người là con vật có lý trí.” 6 Qua tư tưởng của Aristote, chúng ta nhận thấy ông là người đầu tiên đề cao xã hội tính của con người. Theo ông, con người là một “hữu thể xã hội,” một hữu thể sống trong cộng đồng chính trị. Là một hữu thể xã hội, con người cũng là một “hữu thể tương quan,” tức là mở ra với tha nhân và cộng đồng nhân loại.7

Sau này, tư tưởng của Aristote được Thánh Tôma Aquinô lấy lại vì theo thánh nhân, xã hội tính nằm trong bản chất của con người, chứ không phải chỉ là cái gì tùy thuộc, cho nên khuynh hướng tự nhiên của con người là hướng về cộng đồng xã hội.8 Có thể nói, xã hội tính của con người dựa trên sự mạc khải của Thánh Kinh, vì con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. St 1,27), nên “khi con người bổ túc cho nhau và trao đổi với nhau, con người mới là hình ảnh của Ba Ngôi Thiên Chúa trong vũ trụ.”9 Tư tưởng này được nhà thần học Henri de Lubac tiếp tục triển khai: “xã-hội-tính của Thiên Chúa Ba Ngôi phản ảnh nơi xã-hội-tính của loài người.”10

Tư tưởng trên đã được Công đồng Vaticanô II nhận định: “Thiên Chúa không tạo nên con người cô độc... Thực vậy, tự bản tính thâm sâu của mình, con người là một hữu thể có xã hội tính và nếu không liên lạc với những người khác con người sẽ không thể sống và phát triển tài năng mình.”11 Bởi vì, ngay từ đầu: “Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi con người cách riêng rẽ thiếu liên kết, mà muốn quy tụ họ thành một dân tộc, để nhận biết Người trong chân lý và phụng sự Người trong sự thánh thiện.”12

Tất cả các dẫn chứng trên cho thấy con người là một hữu thể xã hội hay là phần tử trong cấu trúc xã hội. Nhưng trước tiên và trên hết, con người chính là một nhân vị, vì được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. St 1,27).13 Do đó, “con người không phải là thứ gì đó, nhưng là một ai đó, và có giá trị độc nhất.”14 Đây là một khái niệm mà người ta chỉ tìm thấy trong Kitô giáo, đó là khẳng định của tư tưởng gia người Pháp, ông Roger Garaudy đã khẳng định.15 Khái niệm này được Severino Boetius (tk. VI) giải thích: “Nhân vị là cá thể của bản tính có lý trí.”16 Tư tưởng này được Thánh Tôma Aquinô tiếp tục triển khai khi mở rộng thêm rằng khái niệm về nhân vị phải được hiểu ngang qua chiều kích tương quan.

Tóm lại nhân vị là một hữu thể tự tại, bất khả phân chia, cá biệt và do đó độc nhất vô nhị, bất khả thay thế, bất khả di nhượng và bất khả xâm phạm.17 Đồng thời, nhân vị cũng là một hữu thể có tương quan phẩm chất với người khác, cái khác và Đấng khác.18

Như vậy cả hai khái niệm về con người vừa là “hữu thể xã hội,” vừa là “nhân vị” không những không mâu thuẫn mà còn có sự hỗ tương và phong phú hóa cho nhau. Vì thế, con người phải là chủ thể và trung tâm của mọi cơ cấu cũng như sinh hoạt xã hội, trong đó có cả các hoạt động kinh tế.19

2. Khái niệm về hoạt động kinh tế.

Trong từ điển tiếng Việt thì “kinh tế” có nghĩa là: tổng thể những quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của một hình thái xã hội nhất định.20 Còn khái niệm về “hoạt động kinh tế”, học thuyết xã hội của Giáo Hội Công giáo trình bày như sau: “Khi nói về hoạt động kinh tế là chúng ta bàn về lĩnh vực của các tương tác xã hội trong đó con người cung ứng nhu cầu vật chất của họ và của đồng loại. Do đó hoạt động kinh tế liên quan tới việc sản xuất, phân phối, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ.”21

Thuật ngữ “hoạt động kinh tế” được Đức Hồng Y Josef Hoffner giải thích cách cụ thể như sau: “Hoạt động kinh tế là toàn bộ những biện pháp và thủ tục nhằm đáp ứng một cách có hệ thống, liên tục và an toàn những nhu cầu của con người về hàng hóa và dịch vụ để có thể giúp các cá nhân và thực thể xã hội phát triển theo ý Chúa.”22

Như vậy, hoạt động kinh tế được trình bày trong mối tương quan bất khả tách biệt với con người. Chúng hướng đến mục tiêu cụ thể là cung cấp cho chúng ta các sản phẩm vật chất cần thiết để đảm bảo về cuộc sống.23 Tuy nhiên, “hoạt động kinh tế không chỉ nhằm làm ra nhiều sản phẩm, gia tăng lợi nhuận hoặc quyền lực, nhưng trước tiên nó nhắm tới việc phục vụ các nhân vị, con người toàn diện và toàn thể cộng đồng nhân loại.”24 Chính vì thế mà tất cả các hoạt động phải dựa trên nguyên tắc đạo đức để mang lại giá trị thực sự dựa trên công lý và công ích.25

Qua việc trình bày khái niệm về con người và về hoạt động kinh tế, chúng ta thấy giữa chúng có mối tương quan tương hỗ, bổ túc ý nghĩa và giá trị cho nhau. Phần tiếp theo, tôi sẽ trình bày về mối tương quan chặt chẽ này.

3. Mối tương quan giữa con người và hoạt động kinh tế xã hội

Mối tương quan này được triển khai dựa trên giáo huấn của Công đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Gaudium Et Spes: “Con người là tác giả, tâm điểm và cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội.”26 Người viết xin được trình bày qua hai mục sau: thứ nhất, con người là tác giả của tất cả đời sống kinh tế xã hội (hay còn gọi là hoạt động kinh tế), và thứ hai là hoạt động kinh tế là để phục vụ con người.

Con người là tác giả của hoạt động kinh tế

Như đã trình bày ở trên, mục tiêu của hoạt động kinh tế là tạo ra các sản phẩm để dáp ứng cho nhu cầu của con người.27 Từ nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người với tất cả sự tự do sáng tạo đã đưa ra các chương trình, các biện pháp kinh tế hiện đại, hiệu quả và hợp lý nhằm mang lại những thành quả cao trong sản xuất, tạo ra các sản phẩm chất lượng và phong phú.28 Hơn nữa, vì là nhân vị, con người chính là tác giả, là chủ nhân ông của các hoạt động kinh tế xã hội.29 Đây là một ơn gọi của con người xuất phát từ chính Thiên Chúa (x. St 1,28), vì “được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, con người đã nhận mệnh lệnh chinh phục trái đất cùng tất cả những gì chứa dựng trong đó, cai quản vũ trụ trong công bình và thánh thiện.”30

Tuy nhiên con người không chỉ đóng vai trò là tác giả mà còn đóng vai trò là người kiểm soát hoạt động kinh tế, để tránh tình trạng nền kinh tế có sự phân phối không đồng đều, mất thăng bằng và sự toàn diện khi để cho quyền định đoạt rơi vào tay của một thành phần hay tổ chức nào đó.31 Sự kiểm soát hoạt động kinh tế của con người là giữ cho các hoạt động kinh tế phải tuân theo các nguyên tắc luân lý đòi buộc, phải hướng đến phục vụ con người và công ích cách toàn diện.32

Vừa sáng tạo, vừa kiểm soát các hoạt động kinh tế, nhằm duy trì sự phát triển toàn diện cả về con người và xã hội, đó vừa là ơn gọi nhưng cũng vừa là trách nhiệm cao cả của con người.33 Trên hết và trước hết các hoạt động kinh tế phải dựa trên nền tảng là để phục vụ con người, vì phẩm giá con người.34 Nguyên tắc này tôi sẽ triển khai trong phần tiếp theo.

Hoạt động kinh tế là để phục vụ con người

Trong khi trình bày về sứ mạng của Giáo Hội trong xã hội, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Phát triển kinh tế để phục vụ con người.”35 Điều đó có nghĩa là tất cả hoạt động kinh tế không chỉ là làm tăng sản lượng, lợi tức hay quyền lực, nhưng với mục đích chính là phục vụ con người cách toàn diện. Có thể nói, ý tưởng của Công đồng Vaticanô II được xây dựng trên nền tảng Thánh Kinh, mà Đức Piô XII đã trình bày và được Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII lấy lại: “Mục đích của nó (kinh tế quốc gia) là cấp cho công dân đủ điều kiện vật chất, cần cho từng người phát triển nhân cách và tài năng riêng, một cách đầy đủ và đều hòa [...] (đó là) nguyên gốc và cứu cánh duy nhất.”36

Thật vậy, chủ thể của hoạt động kinh tế là con người, mà lại không hướng đến sự phục vụ phẩm giá con người thì quả là điều vô lý và không bao giờ chấp nhận được.37 Chính Đức Phaolô VI cũng đã khẳng định điều này như sau: “kinh tế và kỹ thuật không có ý nghĩa gì nếu không hướng về ích lợi con người để phục vụ.”38 Hiện nay với sự phát triển về khoa học kỹ thuật, nền kinh tế đã tạo ra nguồn của cải dồi dào, điều đó dĩ nhiên mang lại hy vọng là cuộc sống con người sẽ được nâng cao hơn, sẽ làm giảm đi số người còn đang nghèo đói và thiếu thốn về vật chất ở nhiều nơi xa xôi khắc nghiệt...39 Quả thực, nếu làm được như thế thì hoạt động đó sẽ xứng với con người hơn, nghĩa là “con người (biết) nhìn nhận những giá trị tối cao, và nhìn nhận Thiên Chúa là nguồn gốc và là cùng đích của mọi giá trị.”40 Nguyên tắc trên là phổ quát cho mọi hoạt động xã hội và cách riêng cho hoạt động kinh tế, vì: “Toàn bộ đời sống xã hội đều là sự biểu hiện của một nhân vật chính không thể lầm lẫn được, đó chính là con người.”41

Một đặc điểm nữa cần phải đặc biệt lưu ý và thực hiện là theo nguyên tắc trong trật tự xã hội thì: “trật tự của sự vật phải lệ thuộc và trật tự của nhân vị, chứ không ngược lại. Điều này chính Chúa đã đưa ám chỉ khi Người nói rằng ngày nghỉ được lập ra vì con người chứ không phải con người được dựng nên vì ngày nghỉ.”42 Do đó, tất cả những gì Thiên Chúa ban cho con người nơi con người và nơi thiên nhiên là để hướng đến con người, thăng tiến con người cách toàn diện và đại đồng.43

Qua những gì đã trình bày ở trên, tôi muốn làm nổi bật về xác quyết của Công đồng Vaticanô II khi nói về nguyên tắc của hoạt động kinh tế là phải dựa trên con người: “Con người là tác giả, tâm điểm và cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội.” Để tóm lại cho phần trình bày ở trên, tôi xin được trích dẫn tư tưởng của Đức Phanxicô trong thư gửi cho Thủ tướng Anh, ông David Cameron như sau: “Mục đích của kinh tế và chính trị chính là để phục vụ con người, bắt đầu là những người nghèo khổ và yếu thế nhất, dù họ ở đâu đi nữa, cả trong lòng mẹ. Mỗi lý thuyết hoặc hoạt động kinh tế và chính trị phải nỗ lực cung cấp cho mỗi người dân của trái đất sự an sinh tối thiểu, giúp họ sống trong phẩm giá, trong tự do và có khả năng nuôi dưỡng một gia đình, giáo dục con cái, chúc tụng Thiên Chúa và phát huy các khả năng nhân bản. Đó là điều chính yếu. Nếu không có viễn tượng đó thì hoạt động kinh tế sẽ không có ý nghĩa.”44

Đó là tinh thần của Giáo Hội mà Đức Phanxicô đang muốn gửi tới cho tất cả mọi cá nhân, mọi tổ chức, mọi quốc gia và toàn thể nhân loại, để thực thi nhằm đem lại hạnh phúc đích thực cho con người và sự phát triển xã hội cách toàn diện.

John Phạm

Ghi chú
X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 4 (07.12.1965), bt. Phân khoa Thần học – Giáo hoàng Học viện thánh Piô X (Đà Lạt – Việt Nam, 1972), 732.
Ibid., số 8.
Ibid., số 1.
Ibid., số 63.
Nguyễn Thái Hợp, OP., Một Cái Nhìn Về Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo, (TP. HCM, Nxb. Phương Đông, 2013), 116.
Ibid., 116.
X. Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo, số 34, bd. Hội đồng Giám mục Việt Nam - Ủy ban Bác ấi Xã hội, (Hà Nội, Nxb. Tôn Giáo, 207), 52-53.
X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 23.
Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo, số 36.
X. Nguyễn Thái Hợp, OP., Một Cái Nhìn Về Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo, op. cit., 117.
Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 12.
Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 9 (21.11.1964).
X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 357.1877 (11.10.1992), bd. Ủy ban Giáo lý Đức tin - Hội đồng Giám mục Việt Nam (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2012).
Docat, số 47, bd. Ủy ban Giáo lý Đức tin – Hội đồng Giám mục Việt Nam, (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2017), 60.
X. Nguyễn Thái Hợp, OP., Một Cái Nhìn Về Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo, op. cit., 114-115.
Ibid., 120-121.
X. Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris, số 1 (11.4.1963), bd. Đại Chủng Viện Thánh Giuse (Đức Lêô XIII - Đức Gioan Phaolô II, “Các Thông Điệp Xã Hội”, (ĐCV. Thánh Giuse, 2000)), 271.
X. Nguyễn Thái Hợp, OP., Một Cái Nhìn Về Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo, op. cit., 121.
X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 25.
X. Ngôn Ngữ Việt Nam, “Kinh Tế,”  trong Từ Điển Tiếng Việt,(Hà Nội: Nxb. Từ Điển Bách Khoa, 2014), 390.
X. Docat, số 158.
Ibid., số 158, Phần giải thích thuật ngữ.
X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2426.
Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 64.
X. Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas In Veritate, số 6.7 (29.6.2009), bd. Ủy ban Giáo lý Đức tin và TT. Mục vụ TGP. Sài Gòn, http://www.simonhoadalat.com. Truy cập ngày 10 tháng 02 năm 2015.
Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 63.
X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2427.
X. Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 15.16.22 (26.3.1967); Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens, số 77 (14.9.1981).
X. Lêô XIII, Thông điệp Rerum Novarum, số 6 (15.5.1891); Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris, số 7.12; Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens, số 25.34.
Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 34; Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, số 27; Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus số 31 (01.5.1991).
X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 65.
X. Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 7.8.
X. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2427-2429.
X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 9.27.
Ibid., số 64.
Gioan XXIII, Thông điệp Mater Et Magistra, số 74 (15.5.1961).
X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 29.35.
Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 34.
X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 69.
Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 21.
Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo, số 106.
Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium Et Spes, số 26.
X. Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 14.
Phanxicô, “Thư Gửi Thủ Tướng Anh, Ông David Cameron,” (15.6.2013), trích trong Docat, 183.
Trang Chủ Ban - Hội Đoàn Các Hội Đoàn Văn Hóa - Truyền Thông